Công giáo lên tiếng với VC, Phật giáo thì sao?
Công giáo lên tiếng với VC, Phật giáo thì sao?
Dù biết VC không hề nghe người dân góp ý phê bình, nhưng Công giáo
vẫn lên tiếng rõ ràng dứt khoát với VC, còn giáo sỹ hàng giáo phẩm Phật
giáo (trong nước) thì đến nay thì im re.

Hội Đồng Giám Mục Công giáo Việt Nam
HỘI ĐỒNG GIÁM MỤC VIỆT NAM - NHẬN ĐỊNH VÀ GÓP Ý
SỬA ĐỔI HIẾN PHÁP 1992
WHĐ (01.03.2013) – Sáng nay, 01-03-2013, linh mục Giuse Dương Hữu Tình,
Thư ký Hội đồng Giám mục Việt Nam (HĐGMVN), đã đến và trao Thư góp ý của
Ban Thường vụ HĐGMVN cho Thường trực Ban biên tập - Ủy ban Dự thảo sửa
đổi Hiến pháp năm 1992, tại số 37 Hùng Vương, quận Ba Đình, Thành phố Hà
Nội.
Sau đây, chúng tôi xin giới thiệu toàn văn Thư góp ý của Ban Thường vụ HĐGMVN:



Last edited by ezekiel; 02-03-2013 at 09:28 PM.
-
http://www.giaohoiphatgiaovietnam.vn...-t-ghpgvn.html

ĐẠO PHÁP – DÂN TỘC – CHỦ NGHĨA XÃ HỘI
LÀ PHƯƠNG CHÂM HÀNH ĐỘNG CỦA TĂNG NI, PHẬT TỬ
GIÁO HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM TRONG THỜI ĐẠI NGÀY NAY
Thượng tọa Thích Gia Quang
Phó Tổng Thư ký Hội đồng Trị sự GHPGVN
Phật giáo Việt Nam với dòng lịch sử xuyên suốt 2000 năm từ khi du nhập
đến nay luôn hội nhập vào sức sống của dân tộc qua các giai đoạn lịch sử
thăng trầm, thịnh suy của đất nước. Sau đại thắng mùa xuân 1975, nước
Việt Nam bước vào kỷ nguyên mới - kỷ nguyên độc lập dân tộc tiến lên Chủ
nghĩa xã hội; Phật giáo Việt Nam lại nhập thân vào vận hội mới của dân
tộc; Phật giáo Việt Nam thống nhất trong cộng đồng dân tộc Việt Nam, lấy
phương châm Đạo pháp – Dân tộc – Chủ nghĩa xã hội làm kim chỉ nam cho
hoạt động của mình.
Hội nghị thống nhất 9 hệ phái tổ chức Phật giáo Việt Nam năm 1981, thành
một tổ chức Phật giáo duy nhất là “Giáo hội Phật giáo Việt Nam”, đại
diện cho Phật giáo Việt Nam trong và ngoài nước, là một sự kiện có ý
nghĩa trọng đại đối với Tăng Ni, Phật tử Việt Nam. Đó là sự kết tinh của
một quá trình chuẩn bị lâu dài của các vị đứng đầu các hệ phái Phật
giáo, và là sự đáp ứng nguyện vọng của hàng triệu Tăng Ni, Phật tử Việt
Nam trong và ngoài nước. Tại Hội nghị này, đường hướng hoạt động của
Giáo hội Phật giáo Việt Nam đã được thông qua đó là: “Đạo pháp – Dân tộc
– Chủ nghĩa xã hội”, đây là phương châm hoạt động của Giáo hội Phật
giáo Việt Nam.
Trước hết phải khẳng định rằng, thực hiện phương châm “Đạo pháp – Dân
tộc – Chủ nghĩa xã hội” là sự lựa chọn duy nhất đúng của Giáo hội Phật
giáo Việt Nam, bởi lẽ nó thể hiện ở sự kế thừa có chọn lọc theo những
tư tưởng quan điểm “Khế lý, khế cơ” của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni và
truyền thống lịch sử Phật giáo Việt Nam đã được hun đúc bởi các bậc Tổ
sư tiền bối trong 20 thế kỷ qua.
Thực vậy, nói đến Đức Phật là nói đến phương pháp hợp lý, hợp cơ để đem
tư tưởng giáo lý của Phật áp dụng vào điều kiện cụ thể của mỗi con
người, mỗi dân tộc, mỗi quốc gia và mỗi thời đại. Trong giáo lý của Phật
có nói “Phật pháp bất ly thế gian giác”, tức là giáo lý của Phật không
cố định, không sao chép nguyên bản một cách cứng nhắc, mà phải vận dụng
linh hoạt, tùy theo điều kiện cụ thể để truyền bá giáo lý của Đức Phật,
sao cho đạt được kết quả có lợi ích nhất. Tuy nhiên, không phải tùy
thời, tùy cơ mà mất hết bản chất của Phật giáo. Đạo Phật chủ trương
“Bất biến tùy duyên, tùy duyên bất biến”. Như vậy, bản chất của đạo Phật
không hề mất đi, mà còn làm giàu thêm tư tưởng giáo lý của đạo Phật
trong thời đại ngày nay.
Chính xuất phát từ những tư tưởng quan điểm đó, mà ngay từ khi đạo Phật
được truyền vào nước ta, các vị Tăng Ni, Phật tử tiếp thu đạo Phật một
cách có chọn lọc, dựa trên điều kiện cụ thể của nước nhà để hoằng dương
Phật pháp và đã tạo nên sự gắn bó mật thiết không thể phân ly giữa đạo
pháp với dân tộc, dân tộc với đạo pháp.
Triều đại Đinh, Lê, Lý, Trần, Phật giáo được coi là thời kỳ hoàng kim,
xong không phải vì thế mà Phật giáo xa vời đời sống của nhân dân, mục
tiêu của dân tộc. Ngược lại, tư tưởng giáo lý của đạo Phật đã được các
bậc đế vương, quân vương, đến người dân bình thường đều thấm nhuần tư
tưởng giáo lý của đạo Phật và góp phần viết lên những trang sử vàng cho
dân tộc.
Đinh Bộ Lĩnh sau khi dẹp xong loạn thập nhị xứ quân, năm 968 ông lên
ngôi Hoàng Đế (Đinh Tiên Hoàng), lập lên nhà Đinh, đặt quốc hiệu là Đại
Cồ Việt, đóng đô ở Hoa Lư. Sau khi lên ngôi ông nghĩ ngay đến việc củng
cố Tăng đoàn Phật giáo, và Ngài Ngô Chân Lưu được vua phong làm Khuông
Việt Thái Sư, pháp sư Trương Ma Ly được phong làm Tăng Lục Đạo Sỹ, Thiền
sư Đặng Huyền Quang được phong làm Sùng Chân Uy Nghi. Từ đây, đạo Phật
được vương triều công nhận như là Quốc giáo và Tăng sĩ Phật giáo chính
thức tham gia cố vấn ở nơi triều chính.
Thời vua Lê Đại Hành, Ngài đã cung thỉnh Khuông Việt Thái sư làm cố vấn,
Thiền sư Pháp Thuận được vua giao công việc phụ trách ngoại giao của
triều đình. Các vị Quốc sư, Thiền sư là những người có công lớn trong
việc xây dựng và bảo vệ đất nước, các Ngài đã khai hóa nền văn học quốc
gia, đã giáo hóa toàn dân phò tá triều đình để cùng nhau giữ gìn non
sông gấm vóc. Chính vì vậy, mà nhân dân Việt Nam đã nhất tề đứng dậy
đánh đuổi sự thống trị của người phương Bắc, giành lấy quyền độc lập, tự
do cho quốc gia trong gần 5 thế kỷ, kể từ đời nhà Đinh trở về sau
(968-1504).
Nhà Lý kế nghiệp nhà Lê hơn hai thế kỷ; chính Lý Công Uẩn (Lý Thái Tổ)
vốn là một chú tiểu, học trò của ngài Vạn Hạnh Thiền sư. Thấm nhuần tư
tưởng giáo lý đạo Phật, vua Lý Công Uẩn đã kết hợp hài hòa giữa đạo và
đời, nhìn thấu đáo mọi việc để xây dựng và bảo vệ đất nước. Và chính vì
vậy, có thể coi triều đại nhà Lý là triều đại của Phật giáo, song Phật
giáo không giữ độc quyền, độc tôn mà đạo Nho, Khổng, … vẫn được tôn
trọng và phát triển, đây là nét đặc biệt thể hiện tư tưởng tôn trọng
bình đẳng, đoàn kết của đạo Phật.
Với tinh thần đó, đã được nhà Trần kế tiếp và tạo dựng đất nước trong
gần hai thế kỷ trị vì. Vua Trần Nhân Tông là người đã lãnh đạo nhân dân
đánh tan giặc Nguyên Mông. Sau khi giành thắng lợi, ông đã nhường ngôi
cho con trai và lên núi Yên Tử để xuất gia tu hành và ông đã trở thành
vị Tổ sư đầu tiên sáng lập ra phái Thiền Trúc Lâm Yên Tử, để cho hôm nay
có một Yên Tử non thiêng và hùng tráng, một trung tâm Văn hóa Phật giáo
Việt Nam, một đạo Phật Việt Nam, tồn tại mãi với thời gian.
Thời hiện đại, trong phong trào đấu tranh sôi động của Phật giáo chống
Mỹ Ngụy với các khẩu hiệu “Nhân dân đòi cơm áo, Phật giáo đòi hòa bình”…
đã xuất hiện nhiều tấm gương sáng chói, sự hy sinh anh dũng của Phật tử
Quách Thị Trang, Nhất Chi Mai… điển hình là tấm gương của Hòa thượng
Thích Quảng Đức đã tự thiêu để phản đối chính quyền Mỹ - Ngụy, đòi lại
hòa bình thống nhất đất nước. Quả tim của Hòa thượng không cháy, đó là
trái tim của một vị Bồ Tát đã dũng cảm cứu đạo cứu đời, chống lại những
thế lực bất nhân phi nghĩa . Nhà nghiên cứu Trần Bạch Đằng đã đánh giá
“đây là thời kỳ cái tinh túy của đạo Phật được phát huy, được luân lý
dân tộc chấp nhận. Đó là hình ảnh Thích Quảng Đức tự thiêu, một kỳ công
không dễ gì có được, là hun đúc của lịch sử, là tinh hoa của Phật giáo
tới tầm cỡ thế giới, nhất là hình ảnh Ngài đến lúc trái tim không còn
hoạt động nữa”. Thời hiện đại chúng ta không thể không nói tới Thiền sư
Thiện Chiếu, Hòa thượng Thích Thế Long, Hòa thượng Thích Đôn Hậu, Hòa
thượng Thích Minh Nguyệt, Hòa thượng Thích Thiện Hào … là những tấm
gương sáng chói về sự phục vụ đạo pháp, phục vụ dân tộc để cho tất cả
chúng ta noi theo. Chính vì thế Nguyên Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt
Nam - Đỗ Mười đã phát biểu tại Đại hội Đại biểu Phật giáo toàn quốc lần
thứ IV: “Trong lịch sự dựng nước và giữ nước, xây dựng và bảo vệ Tổ
quốc, Phật giáo Việt Nam đã hàng nghìn năm gắn bó với dân tộc, hòa nhập
sâu sắc về nhiều mặt với truyền thống văn hóa, đạo đức tốt đẹp của nhân
dân ta. Trong các thời kỳ cách mạng và qua các cuộc kháng chiến chống
ngoại xâm, Phật giáo Việt Nam là một lực lượng quan trọng của khối Đại
đoàn kết toàn dân, đoàn kết đồng bào các tôn giáo; có những cống hiến
rất to lớn và những hy sinh rất vẻ vang”.
Lịch sử dân tộc Việt Nam đã ghi nhận những đóng góp to lớn của Phật giáo
đối với dân tộc. Trong hai cuộc kháng chiến trường kỳ của dân tộc, Phật
giáo Việt Nam đã không ngừng phát huy truyền thống yêu nước của mình để
góp phần vào sự nghiệp đấu tranh giành độc lập, thống nhất nước nhà.
Ngày nay, đất nước đang trong thời kỳ đổi mới, đồng bào tôn giáo nói
chung, giới Tăng Ni, Phật tử Phật giáo Việt Nam nói riêng, luôn ý thức
được trách nhiệm của mình để góp phần cùng nhân dân cả nước xây dựng và
bảo vệ đất nước ngày càng giàu mạnh, cuộc sống yên vui.
Như vậy, trải qua những thăng trầm của lịch sử, lúc thịnh, lúc suy, song
Tăng Ni, Phật tử Giáo hội Phật giáo Việt Nam luôn luôn kề vai sát cánh
với nhân dân, đó là sự thể hiện “phục vụ chúng sinh là cúng dàng chư
Phật”. Vậy mà hiện nay vẫn còn một vài người bảo thủ, thành kiến, cố
chấp, không thấy được ý nghĩa tốt đẹp của sự nghiệp thống nhất Phật
giáo, chưa hòa mình cùng Giáo hội để xây dựng ngôi nhà chung Phật giáo
Việt Nam.
Kính thưa Quý vị Đại biểu,
Trải qua 30 năm xây dựng và phát triển, Giáo hội Phật giáo Việt Nam đã
vượt qua nhiều khó khăn, thử thách và đã thu được những thành tựu Phật
sự quan trọng trên tất cả các lĩnh vực hoạt động của Giáo hội, tạo tiền
đề cho những năm tiếp theo. Thành tựu quan trọng nhất là công tác xây
dựng, củng cố tổ chức của Giáo hội ngày được vững mạnh và hoạt động có
hiệu quả. Số lượng Tăng Ni, Phật tử không ngừng lớn mạnh. Hệ thống giáo
dục đang được đổi mới về nội dung và phương pháp, công tác hoằng dương
chính pháp, nghiên cứu Phật học được quan tâm. Ngoài ra, Giáo hội còn
giới thiệu nhiều Tăng Ni sinh đi du học nước ngoài như Ấn Độ, Myanmar,
Đài Loan… Hoạt động Phật giáo Quốc tế được mở rộng, với nhiều hình thức
khác nhau. Công tác từ thiện có hiệu quả thiết thực, mỗi năm làm từ
thiện được hàng trăm tỷ đồng mà trong báo cáo kết quả thành tựu Phật sự
30 năm thành lập xây dựng phát triển và đồng hành cùng dân tộc của Ban
Thường trực Trung ương Giáo hội đã nêu rõ. Những thành tựu đó, luôn hòa
cùng với những thành tựu to lớn của đất nước. Giáo hội đã và đang chia
sẻ trách nhiệm của mình và nỗ lực phấn đấu góp phần giải quyết những khó
khăn còn tồn tại trong sự nghiệp đổi mới của đất nước như biến đổi khí
hậu, thiên tai, hạn hán, lũ lụt đang diễn ra ở nhiều nơi trong cả nước,
gây thiệt hại lớn về người và của của nhân dân, những vấn đề của thời
đại như nếp sống văn minh chạy theo vật chất, suy thoái đạo đức cá nhân
và xã hội, sự cạn kiệt môi trường và sinh thái… Với chức năng và nhiệm
vụ của mình, Giáo hội Phật giáo Việt Nam luôn có những hoạt động tích
cực để góp phần làm giảm bớt những mặt trái đã và đang phát sinh trong
xã hội, xây dựng nếp sống hài hòa quân bình giữa tinh thần và vật chất
trong cuộc sống. Qua đó, đã khẳng định phương châm hoạt động “Đạo pháp –
Dân tộc – Chủ nghĩa Xã hội” của Giáo hội Phật giáo Việt Nam là đúng
đắn, phù hợp với sự phát triển của đất nước và của thời đại ngày nay; đó
cũng chính là sự kế thừa có chọn lọc của tư tưởng giáo lý Đức Phật và
truyền thống Hộ quốc An dân của Phật giáo Việt Nam.
Last edited by ezekiel; 02-03-2013 at 09:37 PM.
-
Thực hiện Đạo pháp- Dân tộc- Chủ nghĩa xã hội
Thực hiện Đạo pháp- Dân tộc- Chủ nghĩa xã hội
(VOV) - Sau 30 năm thành lập và phát triển, với tinh thần đoàn kết hòa
hợp, tăng ni, Phật tử Việt Nam đã góp phần xây dựng và tăng cường các
mục tiêu, tôn chỉ đúng đắn mà Hiến chương Giáo hội Phật giáo Việt Nam đã
đề ra.
Phát huy truyền thống “sống phúc âm giữa lòng dân tộc” Kỷ niệm 30 năm thành lập Giáo Hội Phật giáo Việt Nam
Phóng viên VOV phỏng vấn Đại lão, Hòa thượng Thích Phổ Tuệ, Pháp chủ Giáo hội Phật giáo Việt Nam về
việc Thực hiện Đạo pháp- Dân tộc- Chủ nghĩa xã hội những thành quả mà
tăng ni, Phật tử cả nước đã đạt được góp phần thực hiện phương châm Đạo
pháp- Dân tộc và Chủ nghĩa xã hội.


Hòa thượng Thích Phổ Tuệ, Pháp chủ Giáo hội Phật giáo Việt Nam: Phải biết yêu nước bảo vệ dân tộc mình, xây dựng đất nước mình tươi đẹp
Phát huy truyền thống “sống phúc âm giữa lòng dân tộc” Kỷ niệm 30 năm thành lập Giáo Hội Phật giáo Việt Nam
Phóng viên VOV phỏng vấn Đại lão, Hòa thượng Thích Phổ Tuệ, Pháp chủ
Giáo hội Phật giáo Việt Nam về những thành quả mà tăng ni, Phật tử cả
nước đã đạt được góp phần thực hiện phương châm Đạo pháp- Dân tộc và Chủ
nghĩa xã hội.
Hòa thượng Thích Phổ Tuệ, Pháp chủ Giáo hội Phật giáo Việt Nam: Phải
biết yêu nước bảo vệ dân tộc mình, xây dựng đất nước mình tươi đẹp
PV: Thưa Đức Pháp chủ! Pháp chủ có thể cho biết tư tưởng đoàn kết, hòa
hợp mà Giáo hội Phật giáo Việt Nam đề ra đã được thực hiện như thế nào
trong Giáo hội?
Hòa thượng Thích Phổ Tuệ: Đạo Phật có nhiều hệ phái: Tiểu thừa, Đại
thừa, rồi các học phái, hệ phái. Đấy là những pháp môn chính, ai theo hệ
phái nào thì cứ theo đó mà tu. Có hệ phái tu thiền, tu tụng kinh niệm
phật, có hệ phái khất sĩ, hệ phái thì tu về Mật giáo: Người ta trì chú,
bí mật, phát huy tư tưởng, đạo pháp, thần quyền.
Phương pháp tu hành có riêng rẽ nhưng phải đoàn kết thống nhất. Đoàn
kết, hòa hợp trong hệ phái mình và đoàn kết các hệ phái. Cùng là đệ tử
Thích Ca, dù tu theo hệ phái nào cũng phải đoàn kết, coi nhau như anh em
một nhà.
PV: Dưới góc độ giáo lý, Đức Pháp chủ có thể nói rõ hơn khái niệm Lục
hòa mà Tăng ni, Phật tử trong nước đang phấn đấu thực hiện?
Hòa thượng Thích Phổ Tuệ: Trước đây không có Giáo hội, chỉ có các Sơn
môn, Tổ đình học theo giáo lý của đức Phật rồi lại truyền dạy cho mọi
người theo Kinh, theo Luật, theo Luận. Luật là giữ gìn uy nghi đức hạnh.
Kinh là học để học chân lý của đạo Phật. Luận là nghiên cứu sâu những
điều giảng bằng kinh sách còn khó hiểu, phải nhờ những bậc cao minh
giảng giải ra để cho dễ hiểu.
Làm thế nào cho đời sống người tu hành, thân không phạm giới luật, miệng
nói năng không có lời điêu ngoa độc ác, ý không nghĩ gì về việc ham
lợi, cùn cấu giận bực người khác và si mê gây nên tội lỗi. Ai đã có lòng
theo Phật thì dù là tại gia hay xuất gia đều đã có Kinh, Luật, Luận, cứ
theo đó mà làm.
Đạo nghĩa Lục hòa vốn là điều căn bản của Phật giáo chúng tôi. Thân hòa
cùng ở, miệng hòa không cãi nhau, ý hòa cùng vui vẻ, bàn giảng với nhau
về đạo pháp, ý thì cùng vui vẻ với nhau. Vui với đạo pháp mà quên hết
phiền não, xóa bỏ đau khổ cho mình và người khác. Thập phương đàn tín có
gì đem đến biếu, giúp đỡ thì cùng hưởng với nhau.
PV: Nhân kỷ niệm 30 năm ngày thành lập giáo hội Phật giáo Việt Nam, Đức Pháp chủ chia sẻ điều gì với tăng ni, Phật tử cả nước?
Hòa thượng Thích Phổ Tuệ: Có 3 điểm quan trọng ghi trong hiến chương của
Giáo hội là Đạo pháp- Dân tộc và Chủ nghĩa xã hội. Đạo thì chúng đã có
Kinh, Luật, Luận- là tự lợi và lợi tha với những người cùng chí hướng
với mình. Dân tộc là phải biết yêu nước bảo vệ dân tộc mình, xây dựng
đất nước mình có tươi đẹp thì quần chúng nhân dân mới vui mừng và tin
theo Phật, mới tránh xa tội lỗi, ác nghiệp, tiến hóa lên chân chính,
sáng suốt.
Trong các khóa lễ, chúng tôi thường khuyên Phật tử: Sống trong đất nước,
trên trời dưới đất phải được không khí thuận hòa, êm ái; Quốc gia phải
được yên bình, làm ăn xây dựng cuộc sống cho tốt cả tinh thần và vật
chất. Quốc gia chính trị tri ân, thủy thổ thuần dụng tri đức. Tức là ăn ở
trên đất nước của cha ông mình thì phải lo đắp bồi, giữ gìn ra sao để
báo ân đất nước; ơn bậc sư trưởng dạy bảo, ơn cha mẹ sinh thành, ơn đàn
na thiện tín đã giúp đỡ mình tu hành. Có làm được 4 điều ấy thì sự
nghiệp tu hành của mình mới trọn vẹn. Nếu không thì mình chỉ là người
ích kỷ thôi.
** Xin cảm ơn Đức Pháp chủ!/.
http://www.baomoi.com/Thuc-hien-Dao-...22/7300359.epi
Last edited by ezekiel; 02-03-2013 at 09:49 PM.
-
Thánh lễ cầu Bình An cho gia đình luật sư Lê Quốc Quân
(01.03.2013) – Hà Nội – Gia đình luật sư Lê Quốc Quân xin trân
trọng kính báo: Ls Lê Quốc Quân và em trai là Lê Đình Quản hiện vẫn bị
giam cầm không tin tức. Gia đình chúng tôi rất lo lắng vì chúng tôi vẫn
không được tiếp xúc để biết tình trạng hiện tại của thân nhân chúng tôi
ra sao.
Với ý chỉ xin cầu nguyện cho Ls Lê Quốc Quân, doanh nhân Lê Đình Quản
được Bình an trong chốn lao tù, đồng thời xin cho cô Nguyễn Thị Oanh sau
2 tháng tù đày trong tình trạng mang thai, được khỏe mạnh để chuẩn bị
sinh nở.
Thánh lễ cầu Bình An cho gia đình chúng tôi sẽ được tổ chức tại nhà thờ
Thái Hà, Hà Nội vào lúc 19h thứ Bảy, ngày 02/3/2013, do cha Giuse Nguyễn
Văn Phượng, Chính xứ Thái Hà chủ tế.
Gia đình chúng tôi trân trọng kính mời bạn bè thân hữu đến tham dự thánh
lễ để hiệp thông cầu Bình An cùng gia đình chúng tôi trong lúc khó khăn
hoạn nạn.

Ls Lê Quốc Quân và cha Giuse Nguyễn Văn Phượng (cầm micro)
Xin trân trọng cảm ơn.
Thay mặt gia đình
NGUYỄN THỊ TRÂM
-
Giáo hội Công giáo phê phán Điều 4
http://www.bbc.co.uk/vietnamese/viet...hienphap.shtml
Giáo hội Công giáo phê phán Điều 4
Cập nhật: 14:20 GMT - thứ sáu, 1 tháng 3, 2013
Giáo hội Công giáo Việt Nam tuyên bố Hiến pháp không nên khẳng định sự
lãnh đạo 'của bất kỳ đảng phái chính trị nào' trong tuyên bố đưa ra hôm
1/3.
Văn bản được Chủ tịch Hội đồng Giám mục Việt Nam, Tổng Giám mục Phêrô
Nguyễn Văn Nhơn, ký và được chuyển cho Ủy ban Dự thảo sửa đổi Hiến pháp
tại Hà Nội.
Các bài liên quan
Hà Nội xong góp ý Hiến pháp trước 7/3
Trống, kèn và góp ý Hiến pháp
Vụ Nguyễn Đắc Kiên gây tiếng vang
Chủ đề liên quan
Đảng Cộng sản,
Chính trị Việt Nam
Lá thư vạch ra một loạt các điểm mà theo Giáo hội là “cần làm sáng tỏ”.
Tư tưởng ‘đóng khung’
Đáng chú ý, lá thư bày tỏ bất đồng với Điều 4, mà theo dự thảo, được sửa
một phần thành Đảng Cộng sản “lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ
Chí Minh làm nền tảng tư tưởng”.
Hội đồng Giám mục nói: “Phải hiểu thế nào và làm sao thực thi quyền tự
do ngôn luận và sáng tạo văn học, nghệ thuật, bởi lẽ tư tưởng đã bị đóng
khung trong một chủ thuyết rồi?”
“Phải hiểu thế nào và làm sao thực thi quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo,
bởi lẽ chủ nghĩa Mác-Lênin tự thân là chủ nghĩa vô thần?”
Giáo hội đòi hỏi: “Hiến pháp cần phải xóa bỏ những mâu thuẫn và bất hợp
lý này, thì mới có sức thuyết phục người dân và thu phục lòng dân.”
Nói về quyền tự do tôn giáo, lá thư yêu cầu: “Không tôn giáo nào hoặc
chủ thuyết nào được coi là bó buộc đối với người dân Việt Nam.”
“Nhà nước không tuyên truyền tiêu cực về tôn giáo, không can thiệp vào
công việc nội bộ của tôn giáo như: đào tạo, truyền chức, thuyên chuyển,
chia tách sát nhập...”
‘Tự do ứng cử’
Đi sâu vào quyền chính trị, lá thư nói “việc tự do ứng cử của mỗi công
dân là đòi hỏi tất yếu trong một xã hội dân chủ, văn minh và lành mạnh”.
Hội đồng Giám mục nói thẳng “quyền làm chủ của nhân dân chỉ có trên giấy tờ và lý thuyết”.
Trong ngụ ý đòi bỏ Điều 4, lá thư viết “trong Hiến pháp không nên và
không thể khẳng định cách tiên thiên sự lãnh đạo của bất kỳ đảng phái
chính trị nào (X. điều 4), vì chủ thể của quyền bính chính trị là chính
nhân dân”.
Lá thư viết thêm: “Hiến pháp phải tôn trọng quyền tham gia hệ thống công
quyền ở mọi cấp, của mọi công dân, không phân biệt thành phần xã hội,
sắc tộc, tôn giáo...”
Với giọng chỉ trích mạnh mẽ, lá thư nói phải “xóa bỏ đặc quyền của bất kỳ đảng phái chính trị nào”.
Những ngày gần đây, Đảng Cộng sản cho tổ chức hàng loạt các buổi thảo luận, nói chuyện ở các bộ, ngành về dự thảo Hiến pháp.
Tường thuật trên truyền thông nhà nước cũng nhắc đến Điều 4 Hiến pháp, nói rằng đây là “không thể thay thế”.
-
Con có một Tổ quốc
Con có một Tổ quốc
Tiếng chuông ngân trầm,
Việt Nam nguyện cầu.
Tiếng chuông não nùng,
Việt Nam buồn thảm.
Tiếng chuông vang lừng,
Việt Nam khởi hoàn.
Tiếng chuông thanh thoát,
Việt Nam hy vọng.
Con có một tổ quốc Việt Nam,
Quê hương yêu quí ngàn đời.
Con hãnh diện, con vui sướng.
Con yêu non sông gấm vóc,
Con yêu lịch sử vẻ vang.
Con yêu đồng bào cần mẫn,
Con yêu chiến sĩ hào hùng.
Sông cuồn cuộn máu chảy cuộn hơn.
Núi cao, xương chất cao hơn.
Đất tuy hẹp, nhưng chí lớn.
Nước tuy nhỏ, nhưng danh vang.
Con phục vụ hết tâm hồn,
Con trung thành hết nhiệt huyết.
Con bảo vệ bằng xương máu,
Con xây dựng bằng tim óc.
Vui niềm vui của đồng bào,
Buồn nỗi buồn của Dân Tộc.
Một Nước Việt Nam,
Một Dân Tộc Việt Nam,
Một Tâm Hồn Việt Nam,
Một Truyền Thống Việt Nam.
Là người Công Giáo Việt Nam,
Con phải yêu Tổ Quốc gấp bội.
Chúa dạy con, Hội Thánh bảo con.
Cha mong giòng máu ái quốc,
Sôi trào trong huyết quản con.
ĐHY Nguyễn Văn Thuận, cháu ruột của cố tổng thống Ngô Đình Diệm, sau
ngày 30/4/1975 đức Hồng Y Thuận bị Cộng phỉ giam 13 năm tù không xét xử.
-
Thuợng toạ Thích Tuệ Sỹ nói về sự biến thái của giáo hội Phật giáo quốc doanh tại VN
Thuợng toạ Thích Tuệ Sỹ tu tại chùa Già Lam ở Gò Vấp Sài Gòn bị
CSVN giam và xét xử tù chung thân, tuy nhiên do áp lực quốc tế nên VC
phải thả ông sau 20 năm giam tù.
Đạo Pháp Dân Tộc Chủ Nghĩa Xã Hội Biến Thái Của Phật Giáo Việt Nam Hiện Tại
TT Tuệ Sỹ
Lời Dẫn:
Bài tham luận này được viết đã lâu. Nguyên đề là “Văn minh tiểu phẩm,”
chỉ là bài tham luận có tính chuyên đề. Bỗng nhiên nó mang tính thời sự.
Ban đầu người viết không có ý định phổ biến rộng rãi, mà chỉ giới hạn
trong một số thức giả đọc để suy ngẩm về quá khứ và tương lai.
Tuy nhiên, nay nó được cho phổ biến, vì trong mấy tuần vừa qua, Nhà Nước
đã vận dụng bộ máy tuyên truyền khổng lồ và độc quyền, từ diễn đàn Quốc
hội, cho đến các cuộc họp một số phường quận; từ Hội đồng chứng minh,
Giáo hội trung ương, cho đến các ban Đại diện Phât giáo quận; bằng các
phương tiện phát thanh, truyền hình, báo chí; mục đích là xác định lại
lâp trường “trước sau như một” của Đảng CSVN đối với Phật giáo, và cũng
xác định sự hiện hữu duy nhất của Phật giáo qua đại diện hợp pháp là
Giáo hội Phật giáo Việt nam, mà thực chất là một tổ chức chính trị của
Đảng, thực hiện đúng sách lược tôn giáo theo chỉ thị của Lenin: “đảng
phải thông qua tôn giáo để tập hợp quần chúng.” Chính điều đó xác định
rõ nhiệm vụ lịch sử của Giáo hội Phật giáo Việt nam như là công cụ bảo
vệ Đảng, đúng như lời Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh trước đây đã tuyên bố:
Phật giáo Việt nam là chỗ dựa cho người Cộng sản Việt nam làm cách
mạng.
Những tuyên truyền và tuyên bố như trên chỉ được nghe và nhìn từ một
phía. Vì vậy tôi cho phổ biến lại bài này; không xem đây là chân lý lịch
sử, nhưng là sự thực được nhìn theo chủ quan của một cá nhân. Dù sao,
nhìn sự việc từ một khía cạnh khác sẽ cho thấy rõ thêm vấn đề. Chân lý
cuối cùng tùy thuộc người đọc; tùy thuộc trình độ tư duy, thành kiến xã
hội, hay quyền lợi vật chất.
Trước khi giới thiệu bản văn, nhân tiện tôi ghi thêm một vài sự kiện có
tính lịch sử gần nhất, để người đọc có thêm cảm hứng suy luận.
Tôi nói sự kiện lich sử gần nhất, là muốn nói ngay đến sự xuất hiện của
Pháp sư Thích Trí Độ lần đầu tiên tại miền Nam sau ngày Cộng sản chiến
thắng. Trên lễ đài chiến thắng, gồm các lãnh đạo của Đảng và Nhà nước,
hàng cao nhất. Pháp sư thay mặt Phật giáo miền Bắc, mà trên cương vị
người chiến thắng, là chính thức đại diện toàn thể Phật giáo Việt nam.
Đó là vị Pháp sư, mà miền Nam gọi là Đại lão Hòa thượng; Ngài bận chiếc
áo sơ-mi cụt tay như các cán bộ cao cấp khác của Đảng và Nhà Nước. Sự
thực như vậy rất rõ: Phật giáo không tồn tại nữa ở Miền Bắc, mà chỉ tồn
tại như một bộ phận của Đảng và lãnh đạo Phật giáo chỉ là cán bộ của
Đảng và Nhà Nước.
Ở miền Nam, theo báo cáo của Trần Tư, tài liệu của Bộ Nội vụ phổ biến
năm 1996, bấy giờ chỉ có “khoảng 2.5 triệu tín đồ.” Nhưng do nhu cầu
lịch sử, nói theo lý luận của Đảng, nghĩa là chưa xây dựng thành công
chủ nghĩa xã hội nên tôn giáo như thuốc phiện ru ngủ vẫn còn có nhiệm vụ
lịch sử của nó; do nhu cầu lịch sử nên Đảng thừa nhận tồn tại tín
ngưỡng Phật giáo. Tín ngưỡng, chứ không phải tôn giáo. Bởi vì, tin và
thờ bình vôi, cây đa, ông Táo, ông Địa, là tín ngưỡng, chứ không phải
tôn giáo. Đảng tôn trọng tự do tín ngưỡng, nhưng chỉ cho phép tin một số
hiện tượng. Ngoài ra là mê tín, hoặc duy tâm mang tính phản động thì
triệt để bài trừ.
Năm 1980, tôi được anh Võ Đình Cương mời họp thảo luận về văn hoá Phật
giáo tại tòa soạn Giác ngộ, tại đó, đại diện Mặt trận Thành phố HCM đến
dự, và đề nghị (thực chất là ra lệnh): nhiệm vụ văn hoá Phật giáo là bài
trừ mê tín; do đó phải xét lại trong Phật giáo những gì không thuần tuý
thì phải dẹp bỏ. Thí dụ, Quan Âm, Địa Tạng có thuần tuý Phật giáo hay
không? Tôi phản ứng: đó là đức tin tồn tại ít nhất hơn 2 nghìn năm, trên
một phạm vi châu Á rộng lớn; do đó không ai có quyền xét để dẹp bỏ. Tin
hay không, đó là quyền tự do cá nhân. Nhưng dẹp bỏ thì không ai có
quyền.
Ngay sau 1975, nhiều tượng Phật lộ thiên bị giựt sập. Gây chấn động lớn
nhất là giựt tượng Quan Âm tại Pleiku. Viện hóa đạo đã có những phản ứng
quyết liệt, và đích thân Hòa thượng Đôn Hậu mang tài liệu phản đối ấy
ra báo cáo Thủ Tướng Phạm Văn Đồng. Hoà thượng kể lại cho tôi nghe, sau
khi chuyển hồ sơ vi phạm chính sách tôn giáo lên Thủ tướng; hôm sau Hòa
thượng được một Đại tá bên Bộ Nộ vụ gọi sang làm việc. Sau khi nghe Đại
tá lên lớp chính trị, Hòa thượng nói: “Bởi vì Thủ tướng có nhờ tôi sau
khi vào Nam trở ra Bắc, báo cáo Thủ tướng biết tình hình Phật giáo trong
đó. Vì vậy tôi báo cáo những vi phạm để Chính phủ có thể kịp thời sửa
chữa, ngăn chận cán bộ cấp dưới không để vi phạm. Nếu Thủ tướng không
muốn nghe thì thôi. Còn viêc lên lớp chính trị như thế này, đối với tôi
(Hòa thượng) thì xưa quá rồi.” Dù sao, phản ứng ấy cũng làm chùn tay
những đảng viên cuồng tín Mác xít, và tự kiêu về chiến thắng với khẩu
hiệu nhan nhãn các đường phố lúc bấy giờ: “Chủ nghĩa Mác Lê-nin bách
chiến bách thắng muôn năm!” Nghĩa là, không thể tự do hoành hành như
trong những năm sau 1954 trên đất Bắc.
Ở đây, chúng ta phải đặt câu hỏi: sau 1975, nếu không có Phật giáo miền
Nam, cùng với thái độ cương quyết của các vị lãnh đạo Giáo hội Thống
nhất, Phật giáo Việt nam sẽ thoi thóp đến lúc nào rồi đứt hơi luôn, với
đà tự kiêu chiến thắng 1975 và với ảo tưởng về thành trì xã hội chủ
nghĩa bách chiến bách thắng của Liên-xô?
Năm 1982 là cột mốc lớn cho Phật giáo Việt nam, với lời tuyên bố của
Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh. Đảng không dại gì mà dựa lưng vào chỗ mình
chưa nắm chắc. Do đó, bằng mọi giá phải cải tạo Phât giáo miền Nam,
giống như cải tạo xã hội chủ nghĩa theo phương thức tịch thu tư liệu sản
xuất và đưa các chủ tư bản đi lao động cải tạo. Đảng biết chắc, tuy gặp
phải chống đối quyết liệt của lãnh đạo Phật giáo, nhưng với bạo lực
chuyên chính trong tay, sẽ phải cải tạo thành công. Trước hết, sự bức tử
đối với Thượng tọa Tâm Hoàn, Chánh Đại diện GHPGVNTN tỉnh Bình định,
năm 1975, gây kinh sợ không ít cho những ai cưỡng lại ý chí của Đảng.
Kinh hoàng nhất là cái chết của Thượng Tọa Thiện Minh năm 1978, trong
trại giam K4, Bộ Nội vụ. Đó là thời gian tôi được giam cùng trại với Hòa
thượng Thiện Minh, nhưng hoàn toàn cách ly. Chỉ biết rõ, khi nghe tiếng
Hòa thượng trả lời thẩm vấn ở phòng hỏi cung kế cận. Tất cả điều đó
củng cố cho tuyên bố của ông Mai Chí Thọ, bấy giờ là Chủ tịch Uỷ ban
nhân dân Thành phố HCM, nói thẳng với Hòa thượng Trí Thủ, bấy giờ là
Viện trượng Viện hóa đạo: “Các thầy chỉ có hai con đường, theo hoặc
chống. Các thầy theo, chúng tôi tạo điều kiện cho sinh hoạt. Các thầy
chống, chúng tôi còn đủ xe tăng thiết giáp đó.” Hòa thượng trả lời:
Không theo cũng không chống. Nhưng, đối với Đảng, không có con đưòng thứ
ba.
Ý chí của đảng là một chuyện. Nhưng những người Phật giáo cũng nên tự
đặt câu hỏi: Ban Liên lạc Công giáo Yêu nước cũng hoạt động rất tích
cực, nhưng không đưa được Hội đồng Giám mục vào trong Mặt trận Tổ quốc.
Trong khi, rất nhanh chóng, Phật giáo trở thành một bộ phận của đảng
Cộng sản Việt nam. Tại sao?
Từ ngày thành lập đến nay, Giáo hội thành thành viên Mặt trận đó đã làm
những gì? Làm nhiều lắm, vì chùa chiền đồ sộ thêm lên. Như lời Hòa
thượng Thanh Tứ phát biểu mới đây trong buổi lễ khai giảng của trường
Phật học Trung cấp tỉnh Bình định. Hòa thượng nói: “Phật giáo thời Lý
rất thạnh. Nhưng không bằng nay. Vì nay cơ sở của ta to lớn hơn.” Ấy là,
theo như lời Hòa thượng nhắc đi nhắc lại nhiều lần trong bài phát biểu:
nhờ chính sách của Đảng. Đó là sự thực không thể chối cãi. Nhưng cần
nói cho rõ thêm, Việt nam chúng ta bây giờ tiến bộ hơn thời Hồng Bàng
gấp vạn lần. Thời Lý, nước Việt nam chỉ từ Thanh hóa trở ra Bắc, chỉ hơn
1/3 lãnh thổ hiện nay. Như vậy thì cơ sở hiện nay nhất định phải to lên
rồi. Nhưng cái to hơn ấy của lịch sử bốn nghìn năm văn hiến lại chưa
bằng một phần nhỏ của Thái lan chỉ hơn 8 thế kỷ định cư. Và cũng nhờ
chính sách của Đảng, nếu chính sách đó trước sau như một, nghĩa là như
Phật giáo miền Bắc trước 1975, thì không biết ngày nay các Hòa thượng
khi xuất hiện trước công chúng sẽ khoác tăng bào, hay cũng chỉ bận áo sơ
mi cán bộ như Pháp sư Trí Độ trước đây? Trên toàn miền Bắc, cho đến
1975, có trên dưới 300 “ông sư, bà vải.” Đến 1996, theo báo cáo Bộ Nội
vụ của Trần Tư, “Hiện nay Phật giáo ở miền Bắc có khoảng 3000 tăng ni,
tín đồ phần đông là ông già (bà già là chủ yếu –nguyên văn). Số cao tăng
tiêu biểu hầu hết đã già yếu không còn khả năng hoạt động. Số tăng ni
trẻ trình độ văn hoá cũng như lý luận về Phật giáo thấp, không đủ sức
làm nhiệm vụ tranh thủ Phật giáo miền Nam và hoạt động quốc tế.” Giáo
hội Phật giáo Việt nam phục vụ cho cái gì, theo báo cáo đó đã quá rõ.
Ngoài cơ sở “to lớn hơn thời Lý” ra, còn thêm được những gì để vượt hơn
Phật giáo miền nam trước 1975? Nói về báo và tạp chí, được mấy phần
trăm? Chỉ một tờ Giác ngộ duy nhất cho cả nước. Cũng là tờ báo hoằng
pháp. Nhưng cũng thường xuyên ca ngợi vinh quang của Đảng, và giúp Nhà
nước phổ biến kế hoạch sinh đẻ, tuyên truyền đường lối của Đảng chống
NATO. Những lời Phật dạy cao siêu cũng chỉ đủ thêm vài chấm đỏ cho vinh
quang của đảng và đường lối sáng suôt của đảng trên chính trường quốc
tế.
Ngoài tờ Giác ngộ ra, với ba cơ sở giáo dục cao cấp, tương đương đại học, nhưng đã có công trình gì đáng kể?
Vậy thì, qua hơn 20 năm hoạt động, trong tư cách là một bộ phận của
đảng, Giáo hội PGVN đã làm thêm được gì cho văn hoá Phật giáo VN so với
những gì Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất (GHPGVNTN) đã làm trước
1975? Trong khi cả khu vực, và kể luôn cả nước Việt nam đều tiến bộ,
theo chừng mực nào đó, mà Phật giáo Việt nam chưa lấy lại được thế đứng
của nó trong lòng văn hoá dân tộc như trước đó, vậy thì đảng hỗ trợ PGVN
tiến theo hướng nào?
Bề ngoài, cũng còn có mặt đáng nói khác, đó là giáo dục. Trước hết, bao
nhiêu cơ sở Trung học Bồ đề, và các Viện Đại học: một Vạn Hạnh, và một
Phương Nam, của Phật giáo miền Nam, nay biến đi đâu mất? Nói là biến, vì
hầu hết các tăng ni sinh, kể cả những vị đang học tại các trường cao
cấp Phật học, không biết các cơ sở giáo dục này là cái gì, dạy những gì
trong đó. Chính vì vậy mà họ chỉ biết Phật giáo Việt nam tiến bộ vì chùa
to Phật lớn.
Các tăng ni sinh này được đào tạo để làm gì? Không thấy họ được đưa về
các địa phương để giảng pháp cho Phật tử. Cũng không có cơ sở văn hoá
nào để họ phục vụ. Hầu hết, học xong, trở về chùa, làm nghề thầy cúng
hoặc thầy bói. Tất nhiên cũng có nhiều thầy cô vẫn tìm cách mở các khoá
học Phật pháp, nhưng cũng chỉ giới hạn trong một số tỉnh thành lớn, nhất
là Thành phố HCM. Ngay như Huế, được xem là kinh đô của Phật giáo miền
nam, hầu như các thầy chỉ đi cúng và đăng đàn chẩn tế, hoặc lập đàn chay
phá cửa địa ngục cho cô hồn đi chơi, chẳng có buổi giảng kinh nào đáng
kể. Còn cái trường gọi là cao cấp Phật học, hay Học viện Phật giáo Hồng
đức, sau khi Hòa thượng Thiện Siêu tịch rồi, không còn thầy cô nào đủ
sức dịch cho xuôi một trang luận Câu-xá, thì lấy chữ đâu mà giảng dạy
kinh luận cho tăng ni sinh trình độ cao đẳng, đại học?
Nhìn chung, Phật giáo chỉ đang phục vụ nhiều nhất cho người giàu. Còn
quần chúng tại các vùng sâu xa, vì họ thiếu phước, kiếp trước ít tu, nên
nay chẳng mấy khi được nghe các thầy cô thuyết pháp. Còn lập đàn chẩn
tế và phá cửa địa ngục cho ông bà cha mẹ siêu thăng, đốt vàng mã thật
nhiều cho ông bà có tiền tiêu và có xe hơi nhà lầu, dưới âm phủ, thì họ
không đủ tiền.
Tóm lại, nếu nói Phật giáo Việt nam hiện tại chẳng có tiến bộ gì thì
không đúng. Vì cơ sở chúng ta hiện nay đồ sộ hơn trước, kể cả miền Nam
trước 1975 chứ không cần so sánh xa xôi lùi cho đến đời Lý như Hòa
thượng Thích Thanh Tứ. Ngoài việc xây dựng chùa to Phật lớn, Phật giáo
hiện tại đã đóng góp gì cho gia tài văn hoá, tư tưởng của dân tộc, ngoài
sứ mệnh được giao phó là rao truyền chính sách sáng suốt của Đảng quang
vinh? Còn chuyện tìm một vị trí của Phật giáo Việt nam, dù chỉ khiêm
tốn thôi, trong thế giới hiện đại, là điều mộng tưởng xa vời.
Gần đây, các trường Phật học tại Saigon sợ tăng ni sinh nghe thêm những
nguồn thông tin không phù họp với sự tuyên truyền một chiều vừa độc
quyền vừa độc đoán của Nhà nước, nên vừa cảnh cáo, vừa khuyên răn: hãy
quên đi quá khứ mà lo chăm học cho hiện tại. Quên đi quá khứ hận thù, để
sống trong tình cảm dân tộc bao dung, đó là điều cần phải học. Nhưng
quên đi những thành tựu quá khứ gần nhất, chỉ cách đây chưa đầy 30 năm,
để rồi so sánh sự tiến bộ của ta ngày nay với thời đại Hồng Bàng, hay
với thời Lý như Hòa thượng Thanh Tứ, thế thì bản chất của nền giáo dục
Phật học ấy là gì? Có phải các thầy muốn dạy tăng ni sinh quên đi những
hy sinh gian khổ của Thầy Tổ đã tạo ra di sản ngày nay, do vậy họ sẽ
nhận thức dễ dàng rằng những gì chúng ta đang thừa hưởng ngày nay là nhờ
công ơn Đảng và Nhà nước?
Lời hăm của các thầy có giá trị “hàn mặc dy luân” của những nhà giáo
dục. Chính vì thế tôi cho phổ biến bài tham luận này, mà trước đó tôi
cho là ý kiến cá nhân nên giới hạn người đọc. Bây giờ tôi vẫn xem đây
chỉ là quan điểm cá nhân. Nhưng tôi cho phổ biến để các thầy có cơ sở
kiểm chứng những thành tựu mà Nhà nước đã giúp Phật giáo Việt nam. Tất
nhiên, tôi nhận mọi trách nhiệm trước pháp luật, và trên hết, trước
lương tâm của một con người còn tin tưởng giá trị làm người.
Già lam 10-11- 2003.
Tuệ Sỹ
-
Thông điệp của Đức Pháp chủ GHPGVN nhân kỷ niệm 30 năm thành lập GHPGVN
01/11/2011 09:23:00 GHPGVN
Đã đọc: 841 Cỡ chữ: Decrease font Enlarge font
Hà Nội, ngày 07 tháng 11 năm 2011

Nam mô Bản Sư Thích Ca Mâu Ni Phật!
Kính gửi: Chư tôn túc Hoà thượng, Thượng toạ, Ni trưởng, Ni sư, Đại đức
Tăng Ni, Cư sĩ Phật tử Việt Nam ở trong nước và ở nước ngoài;
Nhân Đại lễ kỷ niệm 30 năm thành lập Giáo hội Phật giáo Việt Nam, thay
mặt Ban Thường trực Hội đồng Chứng minh, Tôi có lời cầu chúc Phật sự
viên thành đến các cấp Giáo hội Phật giáo Việt Nam và lời cầu chúc cát
tường an lạc đến Chư tôn túc Hoà thượng, Thượng toạ, Ni trưởng, Ni sư,
Đại đức Tăng Ni, Cư sĩ Phật tử Việt Nam ở trong nước và ở nước ngoài.
Ngày 07 tháng 11 năm 1981, Hội nghị hợp nhất các tổ chức, hệ phái Phật
giáo trong cả nước thành tựu viên mãn, quyết nghị thành lập Giáo hội
Phật giáo Việt Nam là sự kiện quan trọng đối với Phật giáo nước nhà, là
kết quả của quá trình chuẩn bị công phu, là sự kết tinh trí tuệ và là
niềm khát vọng của chư Tăng Ni, Phật tử thuộc các tổ chức, hệ phái Phật
giáo trong cả nước. Giáo hội Phật giáo Việt Nam ra đời là chủ thể duy
nhất có sứ mệnh truyền trì đạo mạch nối tiếp lịch sử truyền thống 2000
năm Phật giáo Việt Nam đồng hành với dân tộc và mãi mãi là thành viên
tích cực trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc và hộ quốc an dân.
30 năm xây dựng và trưởng thành, Giáo hội Phật giáo Việt Nam đã lãnh đạo
Tăng Ni, Phật tử Việt Nam ở trong nước và ở nước ngoài đã làm nên nhiều
thành tựu Phật sự quan trọng trên tất cả các lĩnh vực vì Đạo vì Đời,
làm cho Đạo pháp xương minh, Giáo hội trang nghiêm và phát triển bền
vững trong cộng đồng dân tộc, góp phần to lớn cùng với toàn dân xây dựng
đất nước Việt Nam thân yêu của chúng ta ngày một văn minh giàu đẹp.
Thay mặt Ban Thường trực Hội đồng Chứng minh, Tôi có lời tán thán công
đức đến Chư Tăng Ni, Cư sĩ Phật tử đã không ngừng phát huy tinh thần
đoàn kết, hoà hợp, nỗ lực hoàn thành mọi Phật sự. Thông qua những thành
tựu Phật sự đã đạt được trong 30 năm qua, cho phép chúng ta thêm một lần
nữa khẳng định tính tất yếu khách quan của Hội nghị hợp nhất các tổ
chức, hệ phái Phật giáo cả nước, cũng như phương châm hoạt động của Giáo hội Phật giáo Việt Nam: “Đạo Pháp – Dân tộc- Chủ nghĩa Xã hội” là đúng đắn và đang được phát huy sâu rộng trong các chương trình hoạt động Phật sự chung của Giáo hội Phật giáo Việt Nam.
Tình hình thế giới và trong nước đã và đang có nhiều biến đổi sâu sắc,
tác động sâu rộng đến cộng đồng xã hội, trong đó có những nội dung liên
quan đời sống văn hoá tinh thần sinh hoạt tín ngưỡng tôn giáo nói chung
và Phật giáo nói riêng. Nhân Đại lễ này, Tôi kêu gọi các cấp Giáo hội
Phật giáo Việt Nam và Chư Tăng Ni, Phật tử Việt Nam ở trong nước và ở
nước ngoài không ngừng phát huy truyền thống 2000 năm lịch sử Phật giáo
Việt Nam đồng hành với dân tộc và những thành tựu Phật sự mà Giáo hội đã
đạt được trong thời gian qua, để tinh tiến, nỗ lực phấn đấu hoàn thành
mọi Phật sự và quyết tâm khắc phục những hạn chế tồn tại chưa làm được
để xây dựng và phát triển Giáo hội đáp ứng với yêu cầu chung của xã hội.
Đặc biệt, trong thời gian tới, Giáo hội cần chú trọng quan tâm đúng mức
đến công tác truyền thông các Phật sự trên mọi phương diện và coi đó là
phương tiện hữu hiệu nhất để truyền tải chính pháp và văn hoá Phật giáo
đến với cộng đồng xã hội, là cơ sở để tạo nên sự phát triển bền vững và
sự xương minh của đạo mạch trong lòng dân tộc.
Thông qua Đại lễ kỷ niệm 30 năm thành lập Giáo hội Phật giáo Việt Nam,
thay mặt các cấp Giáo hội và Chư Tăng Ni, Cư sĩ Phật tử, Tôi bày tỏ sự
chân thành tri ân công đức sâu sắc nhất đến các cấp lãnh đạo Đảng, Nhà
nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức trong nước và nước ngoài,
cùng các tầng lớp nhân dân đã và đang quan tâm giúp đỡ, sẻ chia các hoạt
động Phật sự của Giáo hội Phật giáo Việt Nam trong suốt 30 năm qua.
Giáo hội Phật giáo Việt Nam mong muốn trong thời gian tới tiếp tục nhận
được những tình cảm tốt đẹp nhất và sự sẻ chia sâu sắc nhất của Quý cơ
quan và cá nhân Quý vị lãnh đạo. Giáo hội coi đây là tình cảm, là động
lực khích lệ to lớn để hoàn thành tốt mọi Phật sự ích đạo lợi đời.
Nam mô Bản Sư Thích Ca Mâu Ni Phật tác đại chứng minh!
ĐỨC PHÁP CHỦ
GIÁO HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM
Trưởng lão Hoà Thượng Thích Phổ Tuệ
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét